Quá Trình Hình Thành và Phát Triển- Cội Nguồn

•Print•

I - Khái quát chung về Dòng Mến Thánh Giá Việt Nam

(Trích từ Lịch Sử Hd Mến Thánh Giá Thủ Thiêm – 2005)

1.Dòng Mến Thánh Giá chào đời:

Ngay từ thời cha Đắc Lộ ở Đàng Ngoài (1627-1630), đã có nhiều thiếu nữ dâng mình cho Chúa bằng cách hứa sống tiết dục và khiết tịnh. Năm 1640, khi Chúa Trịnh Tráng ra sắc chỉ cấm đạo, có ba cô trinh nữ xứ Đông: Monica, Nympha và Vitta, tự nguyện lên kinh thành để tuyên xưng đức tin và được chết vì Chúa. Sắc chỉ đã rút lại, nhưng vì có cơ hội trải qua cảm nghiệm đau khổ khác vì đức tin: ba cô trinh nữ họp nhau, sống chung một nhà; sau có thêm 5, 6 cô khác đến xin gia nhập, làm thành một cộng đoàn trinh nữ, sống “đời sống các Thiên Thần” (Đỗ Quang Chính, Dòng tên trong xã hội Đại Việt, 1998, tr. 561).

Cha Deydier đã hướng dẫn họ trong đời sống thiêng liêng và tháng 8 -1669, cha đã giới thiệu các nhóm trinh nữ này cho Đức Cha Lambert.

Lễ Tro 19-02-1670, Đức Cha Phêrô Lambert de la Motte đã chính thức nhận lời khấn của hai chị Anê và Paula tại Phố Hiến Đàng Ngoài, đồng thời trao cho các chị bản luật tiên khởi mà chính người đã soạn, và xác định rõ tên gọi “một tu hội đặc biệt mang danh hiệu Dòng Nữ Mến Thánh Giá Đức Giêsu Kitô”. Đó là ngày Khai Sinh Dòng Tu đầu tiên trên đất Á Châu.

Năm 1671 Ngài lại lập Dòng Mến Thánh Giá tại An Chỉ - Đàng Trong, với 10 nữ tu.

Năm 1672, Đức Cha lập Dòng Mến Thánh Giá Thái Lan. Sau này, Dòng lan tỏa sang Campuchia (1772), Nhật bản (1878) và Lào (1887). Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, nhiều Hội Dòng Mến Thánh Giá đã bị mai một, nhưng lại nảy sinh nhiều Hội Dòng mới.

2.Nguồn gốc tên gọi Mến Thánh Giá:

Năm 1633, lúc lên 9 tuổi, Đức Cha Phêrô Lambert de la Motte nhận được ơn linh hứng: những người yêu mến Thánh Giá Chúa Giêsu nên quy tụ lại thành một hội mang tên Mến Thánh Giá, ba từ này lấy từ đầu đề chương 11, quyển 2 của sách Gương Phúc mà ngài say mê đọc và suy niệm hằng ngày. Chính điều này làm nền tảng cho châm ngôn mà gài đã chọn cho chính mình và cho nữ tu Mến Thánh Giá: “Đức Giêsu Kitô Chịu-Đóng-Đinh là đối tượng duy nhất của lòng trí chúng ta” (Tiểu sử ĐC Phêrô-Lambert de la Motte).

3.Dòng Mến Thánh Giá hình thành và lớn lên trong bách hại và chiến tranh:

Quá trình hình thành Dòng Mến Thánh Giá thật phức tạp nhưng phong phú đa dạng. Hơn hai thế kỷ đầu, Dòng Mến Thánh Giá đã đồng chia sẻ số phận thương đau của Giáo Hội Việt Nam. Đặc biệt thời Minh Mạng, Tự Đức, Thiệu Trị, người Công Giáo nói chung, và nữ tu Mến Thánh Giá nói riêng, bị sát hại một cách tàn nhẫn, khủng khiếp, chịu bao nỗi gian truân, khốn khổ. Sau này, người ta không chỉ thù ghét tôn giáo mà có những thời điểm cáo buộc người Công Giáo vào tội phản quốc. Vì thế, những cuộc bách hại liên tiếp tái diễn.

Có thể nói rằng Dòng Mến Thánh Giá khai sinh và lớn lên dưới bóng Thánh Giá vì không chỉ chính quyền mà cả giáo quyền, cũng tạo cho các chị biết bao khó khăn. Có một điều không thể lý giải được là chính trong những cơn bách đạo triền miên ấy, ơn gọi Mến Thánh Giá vẫn gia tăng, các tu viện vẫn phát triển.

Dù trong hoàn cảnh nào, chị em Mến Thánh Giá vẫn luôn dấn thân phục vụ Tin Mừng. Đặc biệt trong cơn bách hại, nhà cửa các chị thường là nơi ẩn náu cho những người bị bách hại; các chị đã lén lút vào các trại giam đem lương thực, nhất là Mình Thánh Chúa cho các Đấng anh hùng tuyên xưng đức tin; an ủi kẻ đau khổ, cứu giúp người yếu đuối, nâng dậy các kẻ đã chối đạo. Những nơi mà linh mục không thể vào được, thì các chị mạnh dạn đi tới.

a - Đàng Ngoài

Từ hạt giống đầu tiên Đức Cha Lambert đã gieo tại Đàng Ngoài, dòng Mến Thánh Giá bắt đầu phát triển, có thể nói là rất nhanh. Chỉ sau 7 năm, 1670-1677, con số chị em lên đến 100, sống trong nhiều cộng đoàn.

a.1 - Đông Ký:

Các nhà Kiên Lao, Trung Linh, Bùi Chu đều phát triển nhanh ngay sau khi thành lập. Ngoài ra còn có các nhà Bát Trạch, Hạ Linh và Ke He.

Đến năm 1838, sau chiếu chỉ bắt đạo lần ba của Vua Minh Mạng, ba nhà Mến Thánh Giá còn lại cũng bị phá hủy hoàn toàn.

a.2 - Tây Ký

Năm 1701 có tới 20 nhà; năm 1751 tăng thành 25 nhà. Nhưng những cuộc bách hại trong thế kỷ 18 đã phá hủy toàn bộ các nhà trên.

Trong thời bình an (1802-1830), các cộng đoàn dần dần hồi sinh, với sự nâng đỡ tối đa của các vị Đại Diện Tông Tòa. Sau cuộc bách hại 1838 thời Minh Mạng, 40 nhà bị phân tán. Thời Thiệu Trị (1841-1847), mặc dù cũng có cấm đạo, nhưng trong những hoàn cảnh có thể, các Vị Đại Diện Tông Tòa và các Vị Thừa Sai tái lập các nhà Mến Thánh Giá, họ đã lập lại được 50 nhà. Thế rồi trong thời kỳ phân sáp (1857-1861), ở Đàng Ngoài các nhà dòng bị tàn phá, các nữ tu bị phân tán, hàng trăm nữ tu hy sinh vì đức tin. Thời Văn Thân 1874, có 10 nhà Mến Thánh Giá bị cướp bóc và đốt cháy. Cũng năm đó ở sở Kẻ Trầu (Lưu Mỹ), ba chị Mến Thánh Giá Vinh bị bắt tại Nhà Dòng và bị giết.

b - Đàng Trong:

b.1 - Đông Đàng Trong:

Bốn năm sau khi lập Dòng Mến Thánh Giá tại An Chỉ, Đức Cha Lambert có dịp trở lại Đàng Trong, Ngài được an ủi khi thấy các nữ tu không hề giảm sút lòng sốt sắng buổi ban đầu và chị em vẫn giữ luật rất cặn kẽ.

Sau đó, có thêm các nhà Mến Thánh Giá Diêm Điền (1674), Bo Tay (1674), Lâm Tuyền (1676), Nha Ru, Hội An (1678), Thợ Đúc (1719).

Từ 1780-1812, đời sống tôn giáo tương đối yên ổn. Cha Labartette (sau làm Giám mục), đã lập thêm các tu viện : Di Loan, Phủ Cam, Nhu Lý, Bố Liêu, Kẻ Bàng, Trung Quán, Mỹ Hương, Sáo Bùn. Về sau còn nảy sinh thêm các tu viện khác: Dương Sơn (1828), Kim Long, Cổ Vưu, Tam Tòa …

Theo bản thống kê năm 1795 của Louvet, giáo phận Đàng Trong (lúc ấy bao gồm cả Campuchia và Nam Lào) có khoảng 250 nữ tu bản địa, con số này riêng vùng Thượng Đàng Trong, từ sông Gianh đến Bình Thuận có tới 6 tu viện, mỗi nhà trung bình từ 35 tới 40 nữ tu, và tại Campuchia có 1 tu viện với 6 nữ tu.

Năm 1806, có 8 cộng đoàn ở Cocincina và 1 ở Cambodia.

Năm 1822, có đến 16 nhà với khoảng 400 nữ tu. Đến cuộc bách hại 1833, đã tăng lên tới 20 nhà. Cũng theo thống kê năm 1884 của Louvet, giáo phận Bắc Đàng Trong (Huế) có 7 tu viện với 420 nữ tu , giáo phận Đông Đàng Trong (Quy Nhơn) 12 tu viện với 440 nữ tu.

Thế nhưng đồng số phận với các chị Đàng Ngoài, những lệnh cấm đạo thường xuyên làm cho 20 nhà bị phân tán vào năm 1838. Tháng 7-1885 đến 7-1886, trong 6 tỉnh thuộc giáo phận Quy Nhơn, 270 nữ tu trong số 450 bị chết vì nhục hình, 10 nhà dòng trong số 12 bị triệt hạ.

Các cuộc bách hại lâu dài đã phá hủy toàn bộ các nhà phước Mến Thánh Giá Đông Đàng Trong. Đến nửa cuối thế kỷ thứ 18, ở Đàng Trong không còn dấu vết gì Mến Thánh Giá, kể cả Bản Luật. Sau này, Đức Cha Piguel phải xin một bản sao luật Mến Thánh Giá từ vị Đại Diện Tông Tòa Đàng Ngoài.

b.2 - Tây Đàng Trong:

Các nhà Mến Thánh Giá ở vùng này có thể đã hiện diện từ trước năm 1778, nhưng đã bị hủy diệt hoàn toàn qua các cuộc bách hại như ở phía Đông. Đến năm 1830, các nhà Mến Thánh Giá giáo phận Tây Đàng Trong bắt đầu được tái lập, và trải qua một tiến trình phát triển, giải tán và tồn tại một cách khá rõ ràng:

Khi Mỹ Tho bị Pháp chiếm ngày 12/ 04/ 1861, cha Nhơn đem các chị từ tu viện Bãi Xan và một số nữ tu thuộc tu viện Mặc Bắc về ở Mỹ Tho.Vài năm sau các chị ở Mỹ Tho lập một nhà ở Vĩnh Long. Nhưng năm 1872 tu viện Vĩnh Long và năm 1874 tu viện Mỹ Tho được nhập lại, một số về tu viện Cái Mơn, một số về Cái Nhum.

Năm 1906, Cha Ernest Hay (thuộc Hội Thừa Sai Paris, sáng lập Dòng Kitô Vua) làm Bề Trên Cái Nhum, cho rằng tính tình phụ nữ Việt Nam chưa đủ điều kiện để sống đời thánh hiến, nên csha ra lệnh giải tán. Chị em lại ra đi, nhóm đôi ba người sống tại một nơi nào đó, một số trở về gia đình , một số liều lĩnh ở lại tu viện. Nhờ vậy mà Hội Dòng còn tồn tại đến hôm nay.

Từ ngày ấy chỉ còn 295 nữ tu tại 4 tu viện thuộc địa phận Tây Đàng Trong (Sàigòn): 2 tu viện ở vùng ngoại ô Sàigòn là Chợ Quán và Thủ Thiêm, hai tu viện ở miền Tây là Cái Mơn và cái Nhum; địa phận Campuchia (Nam Vang) 3 tu viện với 45 nữ tu.

Không chỉ tại Việt Nam mà cả ở Thái Lan, các chị Mến Thánh Giá cũng bị bách hại và chịu chết vì đức tin. Hai chị Agnes Phila và Lucia Khambang đã được phong chân phước vào ngày 22/ 10/ 1989.

4. Dòng Mến Thánh Giá trong thời cải cách và phục hưng:

a - Nguyên nhân:

Một nhà nghiên cứu nhận định: “Ngoài việc sống chung và một bản luật rất giản dị, các chị Mến Thánh Giá không có vẻ gì là nữ tu cả: các chị không có y phục khác với y phục phụ nữ, các chị không có lời khấn. Điều mà chủ yếu duy trì cảnh sống của chị em suốt hai thế kỷ rưỡi (1670-1925) lại chính là việc cấm đạo (Đinh Thực, sdd, tr. 114).

Khi tìm hiểu về chị em Mến Thánh Giá trước đây, hầu hết các thừa sai và các nhà nghiên cứu đều nhất trí với 3 điểm nổi bật sau đây:

  1. Các nữ tu Mến Thánh Giá có đời sống chung,
  2. Giữ một luật lệ rất nghiêm ngặt.
  3. Thực hiện những nhân đức khiết tịnh, vâng phục và khó nghèo mặc dù chưa thành lời khấn.

Năm 1678 mặc dù Tòa Thánh ban ân xá cho những thành viên dòng nữ Mến Thánh Giá, nhưng như một hiệp hội hoặc hội đạo đức. Thời bấy giờ, luật Giáo Hội buộc đời tu gắn liền với Lơi Khấn Trọng Thể và sống trong đan viện. Mãi đến ngày 8 tháng 12 năm 1900, lời khấn đơn mới được nhìn nhận là lời khấn dòng. Về phương diện Giáo Luật, đến năm này, dòng Mến Thánh Giá mới được nhìn nhận là một dòng tu đúng nghĩa, và những nữ tu tuyên lời khấn đơn mới trở thành những tu sĩ thực thụ.

Một phần vì chưa được công nhận, một phần vì cuộc sống bấp bênh, tạm bợ, các vị Thừa Sai quá ít, không thể hướng dẫn các chị cụ thể trong mọi chiều kích của đời thánh hiến, chị em Mến Thánh Giá không khấn công khai là điều dễ hiểu.

Đó là tình trạng chung của tất cả các Hội Dòng Mến Thánh Giá trong hai thế kỷ đầu

b - Cải cách:

Nhờ sự giúp đỡ của các cha Thừa sai, các Hội Dòng Mến Thánh Giá lần lượt được cải cách theo đúng tinh thần của Giáo Luật năm 1917. Có nhiều giai đoạn cải cách khác nhau cho các hội dòng :

Cuộc cải tổ đầu tiên do cha Gernot thực hiện tại tu viện Mến Thánh Giá Cái Mơn năm 1864, thuộc miền truyền giáo Tây Đàng Trong. Đặc điểm của cuộc cải tổ này là cho chị em mặc tu phục và tuyên lời khấn đơn tạm từng năm (quy chế này có hiệu lực cho 4 Hội dòng Nam Bộ : Cái Mơn, Cái Nhum, Chợ Quán, Thủ Thiêm - đến năm 1970).

Cuộc cải tổ thứ hai do Đức Cha Louis de Cooman Hành (làm Giám mục năm 1917) thực hiện năm 1925 tại Phát Diệm thừa lệnh của Đức Cha Alexandre Marcou Thành. Đặc điểm là chị em làm năm Tập theo Giáo Luật, mặc tu phục và tuyên lời khấn đơn, trước tạm thời sau vĩnh viễn.

Năm 1929, Hội Dòng Mến Thánh Giá Quy Nhơn, và sau đó là nhiều Hội Dòng Mến Thánh Giá khác lần lượt được cải tổ giống như Hội Dòng Mến Thánh Giá Phát Diệm.

Công Đồng Đông Dương năm 1934 đã khen ngợi cuộc cải tổ triệt để này và khuyến khích các Đấng Bản Quyền Sở Tại cải tổ các cộng đoàn Mến Thánh Giá trong miền truyền giáo của mình, bằng cách thống nhất các cộng đoàn biệt lập thành một Hội Dòng Giáo phận, có một tập viện duy nhất, có lời khấn, trước tạm thời, sau vĩnh viễn theo Giáo Luật. Dần dần với thời gian, tất cả các Hội Dòng đều được cải tổ và trở thành những Hội Dòng Giáo Phận, theo đúng quy định của Giáo Luật hiện hành, với các đặc điểm sau:

  1. Các thành viên tuyên lời khấn công (x. GL 607§2)
  2. Tuân giữ triệt để ba lời khuyên Phúc Am (x. GL 574§1 ; 598-601)
  3. Sống thành cộng đoàn (x. GL 602 ; 607§2)
  4. Có một Bề Trên Tổng Quyền (được gọi là Tổng Phụ Trách) (x. GL 616; 620; 622; 625§1-2)
  5. Có cơ cấu quản trị riêng (x. GL 586)
  6. Thuộc quyền Đức Giám Mục giáo phận nơi có Nhà Mẹ (x.GL 589; 594-595); và các Đức Giám mục giáo phận nơi có cộng đoàn của Hội Dòng (x.GL 595)

II - Hội Dòng Mến Thánh Giá Đàlạt (gốc Thanh Hóa)

1.Nguồn gốc

Khi địa phận Phát Diệm được thành lập vào năm 1901, đã có 3 Nhà Mụ Mến Thánh Giá, mỗi Nhà đứng biệt lập và có Bề Trên riêng.

Năm 1902, Đức Cha Alexandre de Marcou Thành đã cho “9 chị em nhà Phúc Nhạc xuống lập Nhà Phát Diệm Lưu Phương”. Đến năm 1925, nhà Phát Diệm trở thành Nhà Mẹ của Hội Dòng. Công việc của chị em là in các sách đạo bằng chữ Nôm, may đồ lễ và làm thuốc viên.

2.Công cuộc cải tổ và canh tân: 1916 - 1925

Năm 1916, Đức Cha Marcou trao cho Cha Louis de Cooman Hành, Cha Chính địa phận Phát Diệm, quyền coi sóc và canh tân Hội Dòng. Một năm sau, tức năm 1917, Tòa Thánh bổ nhiệm ngài làm Giám Mục Phó địa phận Phát Diệm.

Trước tiên ngài thống nhất các Nhà Mụ trong Địa Phận, soạn thảo Hiến Pháp mới và qui định việc khấn dòng theo Giáo Luật. Suốt 9 năm, Đức Cha đã đến từng Nhà khuyên nhủ, giải thích cho các chị ba Lời Khuyên trọn lành của Phúc Âm. Ngài đã phải nhẫn nại, hy sinh rất nhiều để đương đầu với các khó khăn trở ngại, vì đây không phải là việc dễ dàng đối với những người đã quen nếp sống tự do.

Đức Cha cũng sửa lại tên gọi cho các chức vụ trong dòng, và thay đổi tu phục.

Tại Nhà Mẹ, có Bà Mẹ là Bề Trên chung cho tất cả các nhà trong địa phận.

Bà Nhì là Phụ tá của Bà Mẹ.

Bà Tổng Quản lý giữ việc.

Tại các nhà khác, người đứng đầu gọi là Bà Nhất.

Chị cai được gọi là Chị Quản lý.

Chị em mặc áo dài đen, đầu đội lúp đen, ngực đeo tượng Thánh Giá dài khoảng tám phân, chân đi dép.

3.Hỏa ngục tấn công: 1924-1941

Cuộc cải tổ toàn diện này đã làm cho hỏa ngục tức tối và phản ứng dữ dội. Lực lượng Satan tung ra những đợt khủng bố quậy phá, tấn công vào những Tập sinh của Hội dòng. Thời gian này, Mẹ Anne Trần Thị Bạch Hương giữ chức vụ chị giáo Nhà Tập. Mẹ đã chứng kiến và đối thoại với quỷ hỏa ngục, mẹ đã kể lại những sự việc cụ thể trong 17 năm bị quấy phá:

Những ngày đầu, cứ khoảng 9 giờ tối thì có tiếng hét to, dài và ghê sợ ngay trước Nhà Tập, tiếng rung giường, cào gối, tiếng thở dài và khóc nức nở âu sầu, tiếng bò nhai rơm, cỏ…

Chị giáo lên tiếng hỏi: Nhân danh Chúa Ba Ngôi, tôi hỏi: “có phải linh hồn nào ở luyện ngục về có việc gì không? Xin cứ nói chúng tôi sẵn lòng giúp”.

Có tiếng đáp lại rằng: “không

Không phải linh hồn thì là ai?”

Chúng tôi là quỷ hỏa ngục.

“Quỷ hỏa ngục đến đây làm gì ?”

“Có ý phá Nhà Dòng, không cho khấn, đưa quân Nhà Tập về thế gian! Thế nào chúng tôi cũng thắng”.

Thế là hỏa ngục bắt đầu ra tay tấn công với những trò lạ lùng chưa từng có khiến cả Nhà Tập xôn xao lo sợ. Có lần 4 chị đang coi nhà trong giờ đọc kinh, thì tự nhiên thấy cái thúng úp vào đầu một chị, đất rơi cả vào mặt. Chị thấy có hình người chạy ra vườn, chị cầm gậy chạy ra đuổi, vụt ngang cổ nó thấy đầu rơi xuống, lại xem thì là hòn đá. Xảy ra bốn tháng đầu như vậy, Đức Cha chưa tin. Cho đến một lần, Đức Cha đang nói chuyện với cả nhà về chuyện quỷ quấy phá, tự nhiên có hòn gạch lớn ném vào vai một chị đang đứng trước mặt Đức Cha. Cả nhà bỡ ngỡ, bấy giờ Người nói rằng: “Đây là dấu cho Cha tin những điều chúng con kể lại từ đầu là có thật, vì rất ít khi Chúa cho xảy ra bề ngoài như vậy”. Người về kể lại với Đức Cha Chính, và ngay ngày hôm sau, Người bắt đầu chiến dịch phản công: “Từ hôm nay chúng con hợp với Cha cầu nguyện cùng Thánh Giá Chúa Giêsu đủ chín ngày, Cha sẽ sang làm Lễ hằng ngày và cho hôn gỗ chính Thánh Giá Chúa Giêsu”. Đối lại, quỷ càng quậy phá nhiều hơn.

Đến năm 1941 thì quỷ tướng nói rằng: “Nay có lệnh truyền cho tôi đến gặp riêng Bà Mẹ trong giờ đọc kinh tối”. Đức Cha và cả nhà đều lo sợ, e ngại. Bà Nhì cho mấy người đứng ở ngoài gần đấy canh chừng xem sao, thì thấy quỷ mở cửa chạy ra vội vàng, chỉ vào mặt các chị nói rằng: “Nhân đức tin chúng mày ở đâu! Nếu không có phép Chúa, thì tao làm gì được Mẹ chúng mày, đi vào Nhà Thờ hết”. Các chị phải đi, nó gài các cửa lại mà đến bàn viết Bà Mẹ ngồi. Nó nói: “Xin bà Mẹ đừng sợ hãi gì, vì hôm nay tôi phải vâng lệnh truyền mà ở tử tế với Bà Mẹ, chứ không chửi Bà Mẹ, gọi Bà Mẹ là mụ như xưa nay nữa. Xin Bà Mẹ cho tôi tờ giấy to, bốn mặt và bút của Bà, để tôi làm tờ cam kết sau cùng”. Bà Mẹ đưa cho nó, nó viết rồi đọc cho Bà nghe: “Nhân danh Chúa Ba Ngôi và nhân danh Đức Mẹ Maria, bắt chúng tôi viết ra các điều này cho sáng danh Chúa và sáng danh Dòng Mến Thánh Giá Phát Diệm. Chúng tôi xin phép Đức Chúa Trời mà phá Nhà Dòng này, vì tưởng là được. Song nay đã hết hạn mà không được, thì tôi xin trả các con lại cho Bà Mẹ. Từ nay chúng tôi đi, không được quấy bề ngoài nữa, nhưng vẫn được quấy ngầm như những nhà dòng khác…” (Sơ nét Lịch sử HD MTG Gò Vấp [gốc Phát Diệm]).

Thế là sau 17 năm kiên trì chịu đựng, dù quỷ bày ra trăm nghìn mưu chước, nhờ Thánh Giá Chúa Giêsu, Mẹ Maria, Cha Thánh Cả Giuse và Thánh Nư Têrêsa Hài Đồng Giêsu, đã không có một chị em nào ra về trong thời gian này. Từ đó, Nhà Dòng được bình an vui vẻ.

Sau 9 năm chuẩn bị, hai Đức Cha giáo phận quyết định sẽ tổ chức lễ Khấn vào ngày 2/ 02/ 1925, mặc cho sự quấy phá của hỏa ngục. Nhưng để đối phó với sự tấn công của ma quỷ, Đức Cha dạy các chị làm tuần tam nhật kính Thánh Nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu, vị thánh các chị hằng sùng kính và tin tưởng. Trong tuần tam nhật, hỏa ngục càng giận dữ như muốn tổng tấn công lần cuối, nhưng đến ngày cuối cùng Nhà Tập trở lại bầu khí yên tĩnh, tốt đẹp. Đức Cha liền tổ chức tuần tĩnh tâm 9 ngày chuẩn bị Lễ Tuyên Khấn. Những ngày đầu tuần tĩnh tâm, quỷ lại khuấy động, nhưng đến ngày thứ năm, Nhà Dòng được yên tĩnh hoàn toàn.

Ngày 2/ 02/ 1925, lễ khấn đầu tiên cho 61 chị đã được cử hành long trọng sốt sắng. Đây cũng là lễ khấn đầu tiên trên đất nước Việt Nam, sau 255 năm kể từ khi Đức Cha Phêrô Maria Lambert de la Motte nhận lời khấn cho 2 chị Anê và Paula (1670-1925).

Năm 1931, sau sáu năm khấn tạm theo đúng giáo luật, tất cả 61 chị đã được dâng hiến đời mình cho Thiên Chúa trong lời khấn trọn đời.

4.Hội Dòng Mến Thánh Giá Thanh Hóa:

Năm 1932, địa phận Thanh Hóa được tách ra từ địa phận Phát Diệm. Ngày 9/ 11/ 1932, Tòa Thánh ban sắc lệnh cho tất cả các tu viện Mến Thánh Giá Phát Diệm nằm trong Giáo Phận mới, được tách khỏi Hội Dòng Mến Thánh Giá Phát Diệm để trở thành Hội Dòng Mến Thánh Giá Thanh Hóa, thuộc quyền Đức Giám Mục Địa phận Thanh Hóa là Đức Cha Louis de Cooman Hành.

Sắc lệnh được thực hiện ngày 23 tháng 11 năm 1932. Đó cũng là ngày khai sinh Mến Thánh Giá Thanh Hóa.

Trong Địa Phận mới đã có sẵn 4 tu viện : Kẻ Bền, Hữu Lễ, Ba Làng, Nhân Lộ; hai cô nhi viện: Hữu Lễ và Nhân Lộ. Số nữ tu là 45 mà hơn một nửa đã khấn trọn đời.

Mùa hè năm 1935, Đức Cha Louis de Cooman khởi công xây cơ sở chính của Hội dòng. Nhà Mẹ tọa lạc ngay trong tỉnh Thanh Hóa, cách Tòa Giám Mục 400m về phía Đông.

Lớp khấn đầu tiên của Hội Dòng tại Thanh Hóa được tổ chức long trọng vào Lễ Dâng Chúa Giêsu trong Đền Thánh, ngày 02 tháng 02 năm 1937, do Đức Cha Louis de Cooman-Giám mục Giáo Phận, chủ lễ, gồm 3 khấn sinh :

  1. Chị Marie Phạm Kim Xuyến
  2. Chị Thérèse d'Avila Trần Thị Kỷ.
  3. Chị Marie Hoàng Thị Vang (người Lào).

Hội Dòng ghi dấu chặng đường mới của mình dưới khẩu hiệu “Qua Thánh Giá tới Ánh Sáng - Per Crucem Ad Lucem”. Con đường trọn lành của Dòng là con Đường Thánh Giá, hiến thân trọn vẹn cho Chúa Kitô, tiếp nối cuộc khổ nạn của Người như một dấu ấn tình yêu, có khả năng mở rộng trái tim cho những thao thức tông đồ hướng về phần rỗi của anh chị em đồng loại (x. LĐMTG).

a - Giai đọan phát triển:

Đức Cha Louis de Cooman đặt việc đào luyện và phát triển Hội Dòng Mến Thánh Giá vào một trong những vấn đề quan trọng nhất trong chương trình hoạt động của Ngài. Ngài cho in cuốn Hiến Pháp “Phép Nhà Dòng Mến Thánh Giá Thanh Hoá”, cuốn Tục Lệ và cuốn Giáo Luật trích giải những khoản luật về dòng nữ khấn đơn. Ngài lập thêm nhiều tu viện mới :

b - Những sự kiện đáng nhớ :

  1. Ngày 02 tháng 02 năm 1942, dưới sự chủ tọa của Đức Cha Louis de Cooman, Hội Dòng bầu cử Mẹ Bề Trên. Chị Marguerite Lê Thị Kế đắc cử.
  2. Đệ Tử Viện của Hội Dòng nhận Thánh Nữ Thérèse Hài Đồng Giêsu làm Bổn Mạng và chính thức hoạt động vào ngày Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống năm 1942. Bề Trên Đệ Tử Viện là chị Agnès Phạm Ngọc The.
  3. Ngày 16 tháng 8 năm 1944, chị Marie-Catherine Nguyễn Thị Diện Bề Trên Tập Viện qua đời. Chị Rose Hoàng Thị Nhung được bổ nhiệm thay thế.
  4. Năm đói Ất Dậu 1945, cả 9 tu viện và Nhà Mẹ biến thành những trạm cứu thương, những nhà cứu đói. Mỗi ngày các nữ tu nắm cơm mang đi khắp các hang cùng ngõ hẻm để cứu đói. Những nạn nhân, đặc biệt là trẻ em, được đưa về Tu Viện chăm sóc. Những người xấu số được chôn cất xứng đáng. Trong thời kỳ tang thương này của đất nước, chị em rửa tội và chôn cất cả ngàn đồng bào.
  5. Năm 1948, thành lập tu viện Kẻ Láng với cô nhi viện.
  6. Năm 1952, Đức Cha Louis de Cooman cử hai nữ tu, trong đó có Mẹ Đóa, vào giúp chị em Mến Thánh Giá Vinh, để Hội Dòng có lời khấn theo Giáo Luật.
  7. Năm 1953, chị Rose Hoàng Thị Nhung—Bề Trên Tập viện—được bổ nhiệm huấn luyện các khấn sinh thuộc Kinh Viện. Chị Marie Đinh Thị Lương được cử giữ chức Bề Trên Tập Viện.

Đức Cha Louis de Cooman đặc biệt quan tâm đến đời sống tu đức của chị em. Ngài đích thân huấn luyện, khuyên bảo, hướng dẫn chị em trên đường trọn lành. Ngài sắp xếp chương trình học và hằng ngày dạy các em tập, thử sinh. Ngài cũng cử các Cha Thừa Sai và hai Cha Việt Nam giúp nâng cao trình độ văn hóa và âm nhạc cho Đệ Tử Sinh.

Tóm lại, Đức Cha Louis de Cooman dùng mọi phương thế, và hy sinh rất nhiều công sức cũng như thời giờ, để đặt nền tảng vững chắc cho đời sống trọn lành của chị em, đồng thời lo liệu cho công việc truyền giáo, và xã hội của chị em có được cơ sở và phương hướng rõ ràng.

Năm 1932, Hội Dòng có 4 tu viện, 45 nữ tu, 6 tập sinh và 10 đệ tử. Gần 20 năm sau, năm 1953 tăng lên 10 tu viện, 125 nữ tu, 25 tập sinh và 40 đệ tử.

c - Giai đoạn ly tán 1954:

Hội Dòng đang trên đà phát triển về mọi mặt thì vào năm 1953, do các biến cố của đất nước, mọi hoạt động đều phải ngưng lại, các nữ tu phải về sống tạm tại gia đình. Trong thời gian thử thách này, chị em tích cực làm việc tông đồ, phục vụ những nhu cầu bức xúc của Giáo Hội địa phương trong hoàn cảnh bấy giờ.

5.Hội Dòng Mến Thánh Giá Đà Lạt (Thanh Hóa)

a - Giai đoạn ổn định 1954-1955

Nhóm đầu tiên tới miền Nam vào ngày lễ Suy Tôn Thánh Giá 14 tháng 9 năm 1954. Được các Cha Thanh Hóa giới thiệu, chị em tạm trú tại nhà ông Guette là một kiều dân Pháp. Ít lâu sau, Hội Dòng mua một căn nhà cạnh nhà thờ Thị Nghè để làm nơi đón tiếp chị em đang còn tiếp tục vào Nam (sau đó, vì ngôi nhà quá nhỏ, không đủ đáp ứng nhu cầu nên Hội Dòng đã nhượng lại cho dòng Tiểu Muội).

Sau một năm xa cách, cuộc hội ngộ vô cùng xúc động, 112 nữ tu đã có mặt đầy đủ tại Sài gòn. Chị em hết lòng tạ ơn Chúa, Đức Mẹ và Thánh Bổn Mạng Giuse.

Ra đi với hai bàn tay trắng nên khi tới Sài Gòn, chị em phải sống bằng viện trợ, rồi phân công nhau từng nhóm đi phục vụ đồng bào trong các trại di cư, phân phát lương thực đồ dùng, giúp đỡ mọi người di chuyển đến các trại mới rải rác vùng ngoại ô Sài Gòn - Gia Định.

Vì nhà cửa quá chật chội, nhất là có những vấn đề xã hội cấp bách, ban lãnh đạo và một số chị em lên Đà-Lạt, trọ nhà một người Pháp ở Cam Ly. Thấy đây là miền đất tu lý tưởng, Hội Dòng quyết định lập Đệ Tử Viện. Khi đó đã có 18 em theo gia đình vào trước. Đệ Tử Viện được chuyển từ Cam Ly về lãnh địa Đức Bà—Domaine de Marie—thuộc Tu Hội Nữ Tử Bác Ai; rồi lại chuyển đến 13 Nguyễn Tri Phương; sau cùng, cố định tại 253 Phan Đình Phùng, nơi đây đã dung nạp trên 100 đệ tử cho đến biến cố 1975.

Nhóm nữ tu thứ hai bỏ Sài Gòn hướng về Lạc Lâm, mở trường dạy học. Nhưng Lạc Lâm, đất di cư của người dân Bùi Chu thuộc Hội Dòng Đa Minh, nên chị em tế nhị nhẹ nhàng ra đi, khăn gói về Đơn Dương, nhường chỗ cho các chị Đa Minh.

Nhóm thứ ba nhận trách nhiệm coi sóc các nữ sinh lạc gia đình, hoặc gia đình vừa di cư chưa có điều kiện cho các em học hành. Qua trung gian của các Cha Đa Minh, Hội Dòng mượn được khu nhà kiếng ở đường Lê Văn Duyệt - Saigon, làm chỗ tá túc cho 50 em nữ sinh. Ít lâu sau, các em di chuyển đến trường khiếm thị ở đường Trần Hoàng Quân - Ngã Sáu. Một năm sau, nhờ Hội Công Giáo My - Úc giúp đỡ, Hội Dòng xây được một tòa nhà lầu rộng lớn tại số 90 đường Trần Hoàng Quân - Chợ Lớn – Sài Gòn, nhà nội trú cho các nữ sinh viên di cư (nay thuộc Nhà Nước quản lý).

Sau một thời gian ngắn, Ban Lãnh Đạo Hội Dòng cùng với các Cha Thanh Hóa quyết định về Bảo Lộc, khai phá rừng Tân Thanh.

Với sức lao động cần cù, óc sáng tạo, ý chí can trường, các linh mục, các nữ tu, các chủng sinh tích cực khai phá, đốn gỗ làm nhà, biến rừng hoang thành vườn xanh. Chẳng bao lâu, ba khu biệt lập: Nhà Chung - Nhà Dòng - Chủng Viện vừa hoàn tất, tuy bằng gỗ ván nhưng là nhà của mình “ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn!

Vài năm sau, trà - cà phê - cây ăn trái đã hứa hẹn nguồn lương thực chính cho Hội Dòng.

b - Giai đoạn phát triển 1955-1975

Ngày Mồng Một Tết Ất Mùi năm 1955, Hội Dòng khánh thành cơ sở mới trong bầu khí đơn sơ, sốt sắng. Chị em tạ ơn Chúa và Đức Mẹ, cảm thấy mình như dân Chúa xưa, vừa trải qua một cuộc hành trình đượm thấm mồ hôi, đầy gian nan thử thách, nay được đặt chân vào Đất Hứa: Tân Thanh, miền đất bình an, hiền hòa, đất đai màu mỡ, khí hậu ôn hòa. Chị em cần cù lao tác ổn định cuộc sống mới, nhanh chóng đi vào nề nếp.

Hội Dòng quan tâm ngay đến Tập Viện, nên các em Tập, Thử Sinh từ Thanh Hóa vào, một số được gọi tiếp tục các năm tập, thử; một số được theo học đến Tú Tài II.

Ngày 19 tháng 3 năm 1955, nhằm lễ Thánh Giuse, Đức Cha Louis de Cooman từ Pháp qua. Một niềm vui bất ngờ cho Hội Dòng. Đoàn con nô nức đón rước Vị Cha Chung khả kính. Cuộc hội ngộ cha con thật cảm động. Đức Cha Louis de Cooman với tất cả tâm tình yêu thương, tiếp tục đảm nhận việc coi sóc Hội Dòng. Ngài dành rất nhiều thời giờ đào tạo huấn luyện chị em, đặc biệt các em Tập, Thử Sinh.

Theo truyền thống, tuần cuối tháng Giêng mỗi năm, Hội Dòng tĩnh tâm chung. Đức Cha Louis de Cooman giảng phòng. Ngày bế mạc Tuần Phòng - 02 tháng 2 năm 1956, Hội Dòng bầu cử Mẹ Bề Trê : chị Thérèse d'Avila Nguyễn Thị Phúc đắc cử.

Ngày 02 tháng 2 năm 1958 là ngày lễ Khấn đầu tiên tại Miền Nam cho 3 Tập sinh

c - Giáo Phận Đà-Lạt

Ngày 08 tháng 12 năm 1960: lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, Giáo Hội Việt Nam bắt đầu viết trang sử mới—Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII ban sắc lệnh thành lập phẩm trật Giáo Hội trên toàn lãnh thổ Việt Nam, gồm 3 Tòa Tổng Giám Mục và 17 Tòa Giám Mục Tông Tòa, thay thế cho 17 Tòa Đại Diện trước kia. Giáo Hội Việt Nam bước vào giai đoạn trưởng thành.

Trong sắc lệnh đáng ghi ấy, có 3 Giáo Phận mới được thiết lập là Đà-Lạt, Mỹ Tho và Long Xuyên.

Đức Cha Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền được cử làm Giám Mục Giáo Phận Đà-Lạt.

Đức Cha Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền (1962), sau đó là Đức Cha Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm (1975), đã cử Cha Gioan Baotixita Nguyễn Định Tường giúp Hội Dòng với chức năng tuyên uý.

Từ năm 1954 –1975: Trong tình thương của Chúa, dưới sự hướng dẫn của các vị chủ chăn, Hội Dòng đã không ngừng phát triển về mọi mặt.

1962. Hội Dòng cử hai chị đi giúp chị em Mến Thánh Giá Tân Bình - Nha Trang gốc Vinh, để chị em có lời khấn theo Giáo Luật.

1962. Hội Dòng mua lại Tiểu Chủng Viện Tân Thanh, sửa đổi xây cất thêm thành khu Nhà Mẹ rộng rãi tiện nghi hơn. Sở Chính cũ đã được sửa chữa, nâng cấp thành nhà Hưu Dưỡng Hội Dòng.

1965. Hội Dòng cử hai chị giúp chị em Mến Thánh Giá Bắc Ninh-Thủ Đức để chị em có lời khấn theo Giáo Luật.

Như vậy, từ năm 1935 đến năm 1965, Hội Dòng đã chia sẻ ơn Chúa cho ba Hội Dòng Mến Thánh Giá : Vinh (miền Bắc) - Tân Bình (Nha Trang) và Bắc Ninh (Thủ Đức).

1965. Hội Dòng tu chỉnh Hiến Pháp, hầu thích hợp với hoàn cảnh xã hội và nhằm phục vụ tốt hơn.

1966. Ngày 29 tháng 10 năm 1965, Mẹ Bề Trên Thérèse d'Avila Nguyễn Thị Phúc được Chúa gọi về sau một cơn bệnh nặng. Hội Dòng đau đớn thương tiếc Mẹ.

Ngày 07 tháng 5 năm 1966, dưới sự chủ tọa của Đức Giám Mục Giáo phận - Đức Cha Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền, Hội Dòng bầu cử Mẹ Bề Trên mới và chị Marie-Thérèse Nguyễn Thị Tươi trúng cử.

Mẹ Bề Trên mới đặc biệt có tâm tình hiền mẫu, biết dung hòa cách tốt đẹp hai thế hệ già trẻ, khôn ngoan tế nhị trong cách điều hành Hội Dòng, một con người biết lắng nghe thông cảm.

1970. Hội Dòng gửi 4 chị qua Thuỵ Sĩ. Ít lâu sau, hai chị khác qua Mỹ. Hiện nay, Hội Dòng đã có bốn tu viện ở Mỹ: các chị phục vụ giáo xứ, nhà trẻ và làm việc tại Trung Tâm Mục vụ Đông Nam Á.

d - Biến Cố Lịch Sử 1975:

Biến cố này làm thay đổi toàn bộ sinh hoạt của Hội Dòng với bao khó khăn, thử thách dồn dập, cùng muôn vàn ẩn số ... Nhưng dưới bàn tay quan phòng yêu thương của Chúa, với tâm tình hiền mẫu của Đức Mẹ, với sự chỉ giáo khôn ngoan của Đức Giám Mục Giáo phận, với sự hướng dẫn tế nhị của Cha Gioan Baotixita Nguyễn Định Tường và với tinh thần lạc quan dễ thích ứng, chị em đã vượt qua được những thử thách buổi đầu để đi vào môi trường sống mới một cách sinh động. Chị em cố gắng sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào theo đúng như tchung của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam năm 1980.

Để thích ứng với hoàn cảnh mới, Hội Dòng đã thi hành những quyết định sau :

Ngừng hoạt động tại 5 cơ sở :

  1. Xóm Soan-Thanh Bình.
  2. Trường Mẫu Tâm-Xóm Bóng-Nha Trang.
  3. Sở Quản lý Giáo Hoàng Học viện Thánh Piô X - Đà-Lạt.
  4. Hai ký túc xá nữ sinh viên Bình Minh và Kiêm Ái tại Viện Đại học Đà-Lạt.
  5. Trường dạy cắt may Sóng Thần-Thủ Đức.

e - Từ năm 1975 - nay

Đầu niên khóa 1977-1978, Hội Dòng trao cho Phòng Giáo Dục địa phương điều hành các tư thục của Hội Dòng rải rác trong 5 Giáo Phận.

Chị em thôi dạy học, đi vào canh tác trà, cà phê, cây ăn trái, cây công nghiệp; nuôi heo, gà công nghiệp; nuôi tằm ươm tơ, nuôi tằm giống, cung cấp trứng tằm cho bà con. Chị em cũng làm các tiểu thủ công nghiệp: may, đan, thêu tay, thêu máy, móc khăn, móc áo, làm bông vải, bông kén, bông giấy, dệt chiếu, làm mành trúc, sản xuất đồ chơi cho trẻ em... Trong mọi việc, chị em sống tinh thần Nazareth là cầu nguyện và lao động.

1988, Hội Dòng gửi một số chị em học y tế: cán sự điều dưỡng, nha sĩ, y sĩ; một số học ngoại ngữ Anh, Pháp; một số học vi tính, hội họa, trang trí, âm nhạc. Mỗi năm chị em được bồi dưỡng tinh thần do các Cha giáo sư dạy : Kinh Thánh - Tín lý - Phụng vụ - Giáo sử - Thánh nhạc .... Ngoài ra chị em còn trao đổi bổ túc rút kinh nghiệm cho nghiệp vụ tông đồ và xã hội. Chị em cũng được dự khóa Thần Học-Kinh Thánh dài hạn cho nữ tu liên dòng tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Tóm lại, ba chiều kích: lao động linh hồn, lao động trí óc và lao động chân tay được duy trì phân phối điều hòa, tuỳ hoàn cảnh xã hội, tuỳ khả năng mỗi người, để chị em thánh hóa mọi việc trở thành lời cầu nguyện. Vì cầu nguyện và lao động là hai nguồn mạch của trọn lành dòng tu.

Mùa hè 1991 đánh dấu mùa hồng ân: gia đình Hội Dòng tiếp tục có thành viên, mỗi năm gia tăng một cách tốt đẹp sau thời gian gián đoạn. Tạ ơn Chúa !

Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội ngày 8 tháng 12 năm 1992, Hội Dòng cử hai chị ra Bắc để giúp các chị em Hội Dòng Mến Thánh Giá Thanh Hóa các môn học cần thiết. Một lớp tập sinh mới (10 em), vừa được chính quyền cho phép sinh hoạt cũng được theo học cùng với các chị đã khấn.

Ngày 23 tháng 2 năm 1993, áp Lễ Tro khai mạc mùa Chay Thánh, Hội Dòng chính thức gia nhập Liên Hiệp Dòng Mến Thánh Giá Việt Nam, nhưng theo ý Đức Giám mục Giáo Phận, Hội Dòng vẫn giữ Hiến Pháp riêng.

Ngày 18 tháng 2 năm 1994, Hội Dòng khởi công đại tu Nhà Nguyện đã xuống cấp. Công trình hoàn tất sau ba tháng khẩn trương thi công. Ngày 06 tháng 06 Đức Cha Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm làm phép Nhà Nguyện mới, và dâng thánh lễ tạ ơn cùng với 24 linh mục đồng tế.

Ngày 24 tháng 6, nhằm Lễ Thánh Gioan Tẩy Giả, Đức Cha Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm long trọng dâng Thánh Lễ, chính thức nhận Giáo phận Thanh Hóa, mà ngài vừa được Tòa Thánh bổ nhiệm. Đoàn con Mến Thánh Giá Đà-Lạt gốc Thanh Hóa hết lòng cầu nguyện cho ngài, và cho Giáo phận gốc.

Cũng ngày ấy, Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn - Giám Mục Chánh Tòa Đà-Lạt chính thức nhận Giáo phận. Đức Cha cử hành Thánh Lễ đồng tế cùng với hơn 100 linh mục. Toàn thể Giáo phận hân hoan chúc mừng, và bày tỏ lòng yêu mến vâng phục ngài, trong tinh thần hiệp thông “một Chúa chiên và một đoàn chiên”.

Từ ngày 01 tháng 12 năm 1994, đến ngày 04 tháng 5 năm 1995, Mẹ Bề Trên Marie-Thérèse Nguyễn Thị Tươi và chị Phụ tá Anne-Marie Trần Thị Nhiệm kinh lý ba cộng đoàn tại Mỹ. Sau 20 năm, mới thực hiện một lần kinh lý pháp định. Cuộc thăm viếng này đánh dấu một bước quan trọng cho 3 cộng đoàn Mến Thánh Giá Đà-Lạt (Thanh Hoá ) hải ngoại. Các chị được Đức Giám Mục Giáo Phận Portland và Đức Giám mục Giáo phận Arlington (Mỹ) chính thức công nhận là Dòng Giáo phận, nhưng vẫn là chi nhánh của Hội Dòng Mến Thánh Giá Đà-Lạt - Việt Nam. Đức Giám Mục Giáo Phận Đà-Lạt—Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn—đã chấp thuận cho các chị được hưởng quy chế tự trị: Ban Điều Hành Miền và Tập Viện riêng.

Đã ổn định về hạ tầng xây dựng, Hội Dòng dồn nghị lực vào thượng tầng kiến thiết (tinh thần), hầu chào đón Đại Năm Thánh 2000, chuẩn bị hành trang đi vào Thiên Niên Kỷ Thứ Ba - thế kỷ XXI – “Chứng Nhân Cho Tình Yêu Đức Giêsu-Kitô-Chịu-Đóng-Đinh”.

Theo chiều hướng ấy, Hội Dòng đã thực hiện hai công việc quan trọng về tinh thần :

Hoàn thành thủ tục thỉnh nguyện trình lên Tòa Thánh, xin tách Hội Dòng Mến Thánh Giá Đà-Lạt và Thanh Hóa thành 2 Hội Dòng độc lập. Lý do: cả hai đã biệt lập từ 45 năm (1954-1999); mỗi Hội Dòng đã có Nhà Mẹ và Tập Viện riêng; hai miền Nam - Bắc xa xôi khó liên lạc, rất khó điều phối nhân sự để cư trú. Hơn nữa, về lĩnh vực văn hóa, giáo dục, phong tục, tập quán, tính tình của 2 miền khác biệt, khó dung hòa để đem lại hiệu quả tông đồ cao. Đồng thời, phương hướng mục vụ của mỗi Giáo Phận có những nét đặc thù riêng.... Trong tinh thần vâng phục và lòng yêu mến Giáo Hội, Hội Dòng Mến Thánh Giá Đà-Lạt luôn hân hoan đón nhận quyết định của Thánh Bộ.

Sau khi được sự đồng ý của Đức Giám Mục Giáo phận, Hội Dòng đã hợp tác với Ban Nghiên Cứu Hiến Chương của bảy Hội Dòng Mến Thánh Giá Giáo Phận Tp. Hồ Chí Minh sửa lại Hiến Chương cũ (1990), sao cho vắn gọn súc tích, phù hợp với nhịp sống của xã hội hôm nay mà vẫn giữ được căn tính của mình. Công việc hoàn tất tốt đẹp, nên ngày 02 tháng 8, Mẹ Bề Trên đương nhiệm đã triệu tập Tổng Tu Nghị bất thường để biểu quyết thông qua 2 cuốn Hiến Chương và Nội Quy. Và ngày 15 tháng 8 năm 1999: Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, cũng là ngày bế mạc Năm Thánh Đức Mẹ La Vang (1889-1999), Đức Giám Mục Giáo Phận Đà-Lạt đã phê chuẩn Hiến Chương mới. Ngày nhận lãnh Hiến Chương và Nội Quy : toàn Dòng nô nức, hân hoan phấn khởi như một ngày hội. Tạ ơn Chúa !

Ngày 02 tháng 9 năm 1999: Tổng Tu Nghị khác được triệu tập để bầu Ban Lãnh Đạo mới. Chị Madeleine Hoàng Thị Cúc đắc cử chức vụ Tổng Phụ Trách. Ban Lãnh Đạo mới đã tiếp nối công trình của các vị tiền nhiệm, củng cố và phát triển Hội Dòng về nhiều mặt:

Về đời sống tu đức: luôn được quan tâm hàng đầu. Hằng năm, nhiều khóa linh thao cho từng lứa tuổi được tổ chức, giúp chị em hun nóng tình yêu đối với Chúa Giêsu Chịu Đóng Đinh là đối tượng duy nhất của mình.

Về xã hội và truyền giáo: chị em tham gia tích cực vào các công tác xã hội, góp phần xoa dịu đau khổ của những anh chị em kém may mắn, như giúp các bệnh nhân AIDS, phục vụ tại Trọng Điểm của Tổng Giáo Phận Thành Phố Hồ Chí Minh, giúp xây dựng các nhà tình thương, thăm viếng, ủy lạo, giúp đỡ thuốc men, đồ dùng cho các đồng bào nghèo trong các vùng sâu vùng xa, đặc biệt là các dân tộc thiểu số.

Về công việc mục vụ: chị em dấn thân nhiều hơn trong các môi trường ở vùng sâu, vùng xa: dạy các lớp giáo lý, tập hát, phụ trách các hội đoàn, coi phòng Thánh…

Về chuyên môn: để có kinh nghiệm hơn trong điều hành và linh hoạt cộng đoàn, hằng năm các chị hữu trách tham dự các khóa bồi dưỡng nghiệp vụ cho các cấp lãnh đạo tại thành phố Hồ Chí Minh hay các khóa được tổ chức tại Nhà Mẹ.

Về đời sống tri thức: tùy lứa tuổi, tùy khả năng và tùy nhu cầu, chị em được dấn thân nhiều hơn trong các môi trường đại học, cao đẳng, các học viện của liên dòng Mến Thánh Giá, Học viện của liên dòng Đaminh, Học viện Phaolô Nguyễn Văn Bình. Ngoài ra, một số chị em đã được gửi đi du học ở Đài Loan, Ý, Philippines, Mỹ …

Từ năm 1999, Hội Dòng đã mở thêm 9 cơ sở: Lộc An, Tân Bình, Lộc Đức, Đức Giang, B’Đơr, Vinh sơn, Tân Chí Linh, B’Sumrắc và Thánh Thể (Hoa Kỳ).

Ngày 02 tháng 02 năm 2002: Ngày Quốc Tế Đời Sống Thánh Hiến, Đức Cha Phêrô ký sắc lệnh thành lập Hội Dòng Mến Thánh Giá Đàlạt. Hội Dòng hân hoan dâng lời tạ ơn Thiên Chúa và cử hành ngày Khai Sinh với tên gọi chính thức: Hội Dòng Mến Thánh Giá Đàlạt.

Ngày 23 thàng 8 năm 2003: cử hành Tổng Tu Nghị với ban điều hành mới. Chị Madeleine Hoàng Thị Cúc tái đắc cử chức vụ Tổng Phụ Trách.

Ngày 09 tháng 3 năm 2004: Ban hành Hiến Chương vĩnh viễn.

Ngày 11 tháng 10 năm 2004: Trong tinh thần “sống Mầu Nhiệm Thánh Thể” của Giáo Hội toàn cầu, Giáo Hội Việt Nam và đặc biệt Giáo Phận Đàlạt, ngày 11 tháng 10 năm 2004 Hội Dòng được Đức Giám Mục Giáo Phận về chủ sự Thánh Lễ làm phép Phòng Nguyện Thánh Thể, với cuộc rước kiệu cung nghinh Thánh Thể như một nghi thức bước vào năm Thánh Thể của Hội Dòng nói chung và khu vực Nhà Mẹ Hội Dòng nói riêng.

Ngày 09 tháng 6 năm 2005: Hội Dòng đánh dấu một bước ngoặt lịch sử quan trọng: 50 năm hiện diện trong giáo phận Đà Lạt thân yêu. Để kỷ niệm biến cố này, Hội Dòng, với sự khích lệ và nâng đỡ của Đức Cha Giáo Phận và Cha Tổng Đại Diện cũng là cha Chính Xứ Chính Toà đã long trọng cử hành 50 năm hồng ân với cử hành Thánh Lễ Tạ Ơn và Tuyên Khấn Trọn Đời của 20 chị em tại Nhà Thờ Chính Toà Đàlạt.

Cũng trong năm 2005, vì nhu cầu đào tạo và hoạt động tông đồ, số các chị khấn tại Nhà Chính tăng thêm, Hội Dòng nới rộng khu vực Nhà Tập, trả lại các lớp học để làm phòng ngủ cho các chị khấn. Tháng 12 năm 2005 Nhà Tập khai trương các phòng học mới !

Ngày 14 tháng 9 năm 2006 Hội Dòng mừng lễ Suy Tôn Thánh Giá với bầu khí trang trọng và sốt sắng nhiều hơn, mang nhiều ý nghĩa thiêng liêng và sâu đậm tâm tình tri ân hơn, trong khung cảnh chan chứa tình huynh đệ và hiệp thông hơn. Thực vậy, năm nay Hội Dòng mừng kỷ niệm 75 năm được thành lập, bắt đầu từ địa phận Thanh Hóa, về sau trở thành Mến Thánh Giá Đàlạt. Thánh lễ Suy Tôn Thánh Giá được cử hành cách long trọng mừng tước hiệu của Hội Dòng, đồng thời khai mạc Năm Thánh với ơn Toàn Xá Toà Thánh ban cho Hội Dòng trong suốt năm Thánh này. Cũng trong dịp này, Hội Dòng vui mừng khai sinh Hiệp Hội anh chị em Mến Thánh Giá Tại Thế.

Ngày 16 tháng 9 năm 2006 Hội Dòng khởi sự xây dựng Nhà Hưu Dưõng mới, cũng trên địa thế cũ, tuy nhiên rộng rãi và nhiều phòng hơn để có thể đáp ứng cho khoảng trên 50 chị em đau yếu và tuổi cao.

Ngày 08 tháng 6 năm 2007: cử hành Tổng Tu Nghị với Ban Điều Hành mới. Chị Thérèse Nguyễn Thị Bảo đắc cử Tổng Phụ Trách.

Hội Dòng trong sự quan phòng của Thánh Ý Chúa và dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần tiếp tục phát triển về đời sống tâm linh, các hoạt động tông đồ, bác ái xã hội, cũng như về nhân sự và cơ sở. Hiện nay Hội Dòng có tất cả 41 cơ sở trong cũng như ngoài nước.

75 năm, có thể gọi là dài so với cuộc sống của một con người, nhưng với một Hội Dòng thì đây cũng chưa hẳn là dài lắm. Tuy nhiên, đây là một dấu mốc để chị em Mến Thánh Giá Đàlạt cảm nghiệm sâu sắc về hồng ân và sự quan phòng của Thiên Chúa trên Hội Dòng, mà dâng lời tạ ơn, tán tụng ngợi khen, vì Chúa đã dẫn dắt Hội Dòng vượt qua biết bao thăng trầm suốt chặng đường đó. Muôn muôn đời chị em xin cất cao lời cảm tạ Thiên Chúa, tri ân các vị tiền bối đã dày công vun xới và xây dựng Hội Dòng.